Giãn tĩnh mạch tinh là sự giãn lớn thất thường của hệ thống tĩnh mạch của tinh hoàn. Đây là trạng thái tương đối nhiều ở trẻ trai...
Giãn tĩnh mạch tinh là sự giãn to thất thường của hệ thống tĩnh mạch của dịch hoàn. Đây là trạng thái tương đối nhiều ở trai trẻ, nhất là khi tới tuổi dậy thì và mang thể tác động tới chức năng sinh sản khi tới tuổi trưởng thành.
Giãn tĩnh mạch tinh với thể gặp ở 14-20% thiếu niên – tỉ lệ tương đương sở hữu người lớn. Điều cần lưu ý là trong số này, mang khoảng 20% mang vấn đề về chức năng sinh sản. đa số xảy ra ở bên trái, bên phải thuần tuý rất ít gặp, thường trong bệnh cảnh cả hai bên.
vì sao giãn tĩnh mạch tinh thường gặp ở tuổi dậy thì?
Do đây là thời khắc với sự vững mạnh mạnh về cả cơ thể và cơ quan sinh dục của trẻ. dịch hoàn tăng trưởng chóng vánh, gia tăng lượng máu đến dịch hoàn, sức ép cao làm những huyết mạch trở thành căng và giãn ra. Kích thước huyết quản nâng cao lên để cất lượng máu ứ trệ lại tạo cơ hội cho sự trào ngược cái máu trong khoảng tĩnh mạch trọng tâm trở lại hệ thống tĩnh mạch tinh.
bình thường, nhờ những cơ chế đàm đạo nhiệt phức tạp, cái máu tới tinh hoàn được duy trì ở nhiệt độ 33°C. Giãn tĩnh mạch tinh khiến cho rối loàn cơ chế này và làm cho nâng cao nhiệt độ tinh hoàn, tác động đến công đoạn phân phối tinh trùng. ngoài ra, nó còn làm mất thăng bằng hormon và sự bàn luận oxy trong dịch hoàn. mang 2 mẫu tế bào trong mô dịch hoàn, tế bào cung cấp tinh trùng và tế bào phân phối hormon sinh dục nam testosteron. Cả 2 loại tế bào này đều bị ảnh hưởng bởi giãn tĩnh mạch tinh. Ở tuổi thiếu niên, giãn tĩnh mạch tinh còn ảnh hưởng tới sự phát triển của tinh hoàn. Giãn tĩnh mạch tinh ko gây ảnh hưởng tới sự cương cứng, kích thước dương vật, ham muốn dục tình, nam tính hay công đoạn dậy thì.
Giãn mạch tinh ở thiếu niên thường xảy ra ở bên trái.
Cơ chế giãn tĩnh mạch tinh
cho tới hiện tại, cơ chế bệnh sinh vẫn chưa hoàn toàn được sáng tỏ, mang thể với can dự tới nguyên tố di truyền. Giãn tĩnh mạch tinh hay gặp ở bên trái hơn bên phải là do nguyên nhân về mặt giải phẫu: tĩnh mạch tinh trong bên phải đổ vào tĩnh mạch thận phải, khi mà Đó, tĩnh mạch tinh trong bên trái đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới, chính vì vậy, áp lực trong lòng tĩnh mạch tinh bên trái cao hơn bên phải, nguy cơ giãn thất thường cao hơn.
tín hiệu và triệu chứng giãn tĩnh mạch tinh
bình thường, giãn tĩnh mạch tinh không có triệu chứng rõ ràng và ko được quan tâm cho đến khi được thầy thuốc ngẫu nhiên phát hiện nhờ thăm khám tinh hoàn.
đôi khi bố mẹ và tự bản thân trẻ nhận thấy vùng phía trên dịch hoàn xuất hiện 1 khối cất các búi giãn oằn èo. Khối này thấy rõ khi trẻ đứng và giảm xuống ở tư thế nằm.
thỉnh thoảng, sau 1 hoạt động gắng công, thời tiết nóng nực, hoặc sau lúc trẻ phải đứng lâu, trẻ với cảm giác tức nặng vùng bìu. Cảm giác này nâng cao lên thành dấu hiệu đau âm ỉ tinh hoàn bị đơn bệnh.
Phân chiếc giãn tĩnh mạch tinh
Độ 0: ko sở hữu triệu chứng, ko Quan sát thấy, phát hiện qua siêu âm.
Độ 1: với triệu chứng khi gắng công.
Độ 2: với thể sờ thấy nhưng không Nhìn vào thấy.
Độ 3: Quan sát thấy bằng mắt thường.
Trong thời kì dậy thì, thể tích dịch hoàn mang thể nâng cao từ 2ml lên tới 16ml. dịch hoàn được xác định là nhỏ lúc thể tích chênh lệch giữa hai tinh hoàn từ 2ml trở lên. Thể tích này được đo chuẩn xác nhất qua siêu âm tinh hoàn. Ở người trưởng thành, giãn tĩnh mạch tinh với chỉ định mổ khi mà xét nghiệm tinh khí đồ với thất thường hoặc bệnh nhân có vấn đề về khả năng sinh sản. không những thế, cũng với thể chỉ định mổ khi khối tĩnh mạch tinh giãn rất to hoặc triệu chứng gây khó chịu cho người bệnh. Kích thước của tĩnh mạch tinh giãn cũng là một yếu tố tiên lượng cho chất lượng của tinh trùng và sự lớn mạnh của dịch hoàn.
biện pháp điều trị giãn tĩnh mạch tinh
sở hữu tất cả cách điều trị giãn tĩnh mạch tinh. chỉ tiêu chung của đa số các bí quyết chậm tiến độ là thắt những tĩnh mạch tinh giãn bệnh lý. 3 cách được sử dụng phổ biến hiện nay là: giải phẫu nội soi ổ bụng, thắt tĩnh mạch tinh ngoài phúc mạc và vi phẫu thắt tĩnh mạch tinh con đường bẹn. Cả 3 phương pháp này đều là giải phẫu can thiệp tối thiểu. Tỉ lệ biến chứng chung của cả 3 phương pháp: 2-15% tái phát, tràn dịch màng dịch hoàn (1-10%). ngoài ra, phẫu thuật nội soi ổ bụng mang thêm biến chứng về tổn thương các tạng trong ổ bụng hoặc chảy máu (dưới 1%). một số biến chứng thảng hoặc gặp khác bao gồm: teo tinh hoàn, nhiễm khuẩn vết mổ hay đau tức tinh hoàn. thời gian mổ khoảng 1 giờ. Bệnh nhân có thể ra viện trong ngày.
ThS.BS. trằn Đức Tâm (Khoa Nhi - BV Việt Đức)
Có thể bạn quan tâm:
Trong đông y có một phương thuốc giúp tăng cường sinh lý cho nam và nữ, sản phẩm mang tên nấm ngọc cẩu mà người ta hay gọi là nấm tan cửa nát nhà. Nấm ngọc cẩu tươi thường được sử dụng để ngâm rượu và sử dụng kết hợp với nhiều loại thảo dược khác.